Câu hỏi thường gặp | Trung Tâm Internet Việt Nam (VNNIC)
BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
TRUNG TÂM INTERNET VIỆT NAM - VNNIC

Câu hỏi thường gặp

Câu 1. Giá thuê cổng kết nối VNIX

Giá thuê cổng kết nối VNIX do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành. Giá thuê có thể thay đổi hàng năm trên cơ sở tính toán chi phí giá thành.

Hiện tại, VNNIC cung cấp 2 loại cổng kết nối có dung lượng: 1Gbps hoặc 10Gbps.

Đối với cổng 1Gbps.

  • Giá thuê cổng kết nối 1Gbps theo tháng chưa bao gồm thuế VAT: Gt= 16.000.000 đồng/tháng/cổng (căn cứ theo Quyết định số 1607/QĐ-BTTTT ngày 31/10/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông)
  • Giá thuê cổng 1Gbps/tháng là cố định, tính theo số lượng cổng kết nối tại mỗi điểm VNIX, không phụ thuộc dung lượng băng thông trong tháng

Đối với cổng 10Gbps

  • Tùy thuộc băng thông sử dụng trong tháng (phương pháp xác định 95%), chi phí được tính trên cơ sở đơn giá thuê cổng 1Gbps nhân với băng thông sử dụng thực tế trong tháng.

 

Câu 2. Sự khác nhau giữa peering và transit

  • Trao đổi lưu lượng ngang hàng (peering) cho phép 2 mạng trao đổi lưu lượng trực tiếp qua đường kết nối với nhau, từ mạng này tới mạng kia và ngược lại. Trong khi đó chuyển tiếp lưu lượng (transit) là thông qua mạng trung gian thường được gọi là nhà cung cấp dịch vụ cấp trên (upstream provider) để đến các địa chỉ Internet của các mạng khác. Các ISP kết nối với VNIX để trao đổi lưu lượng ngang hàng trong nước với nhau, không chuyển tiếp lưu lượng ký sinh/ lưu lượng Internet quốc tế.
  • Các ISP kết nối đồng thời với các trạm trung chuyển VNIX, tuỳ theo chính sách định tuyến ISP có thể ưu tiên một hướng kết nối, dùng hướng kết nối còn lại làm dự phòng, hoặc phân tải động qua hai hướng. Ngoài ra, tại mỗi trạm trung chuyển VNIX đều hỗ trợ các cơ chế dự phòng kênh truyền dẫn.

Câu 3. Lưu lượng ký sinh

Lưu lượng ký sinh là lưu lượng không được phép trung chuyển qua VNIX. Lưu lượng ký sinh gồm:

  • Lưu lượng đi Internet quốc tế (Hình 1):

Hình 1

  • Lưu lượng sử dụng mạng trục (lợi dụng mạng trục) của doanh nghiệp khác để truyền tải lưu lượng Internet nội mạng của mình hoặc giữa các mạng kết nối với các điểm VNIX khác nhau (Hình 2):



Hình 2